Đặc điểm của bệnh bạc lá lúa và các biện pháp phòng trừ

Đặc điểm của bệnh bạc lá lúa và các biện pháp phòng trừ

Bệnh bạc lá lúa hay còn gọi là bệnh cháy bìa lá lúa do vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây nên. Bệnh thường xuất hiện trong vụ hè thu và khả năng ảnh hưởng đến năng suất lúa khá lớn, có thể giảm đến 50%. Vậy đặc điểm của bệnh bạc lá lúa như thế nào? Biện pháp phòng trừ bệnh bạc lá lúa nào được áp dụng? Cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây.

1. Đặc điểm của bệnh bạc lá lúa

Bệnh bạc lá lúa thường xuất hiện ở giai đoạn lúa trổ. Tuy nhiên cũng có khi bệnh gây hại trên mạ và hạt lúa. Chúng thường có một số triệu chứng và đặc điểm như sau:

Đối với cây mạ 

Bệnh biểu hiện ngay trên bìa của các lá già bên dưới có những đốm úng nước nhỏ. Đốm lớn dần ra làm lá trở nên vàng và khô héo.

Đối với lá lúa

  • Bệnh bạc lá lúa xuất hiện ở mép lá, cây lúa có biểu hiện cháy dọc mép lá từ đầu chóp lá cháy xuống (hay còn gọi là bệnh cháy bìa lá)
  • Buổi chiều những giọt keo vi khuẩn bạc lá khô đọng lại ở mép lá màu vàng. Kích thước nhỏ như trứng tôm.
  • Vào buổi đêm sương, những giọt keo vi khuẩn này tan ra. Chảy chạy dài theo mép lá và gió làm xây xát lan sang những lá khác.
  • Bệnh nặng khiến cho lá lúa bị cháy, đặc biệt là lá đòng cháy khiến cho lúa bị lép lửng với tỉ lệ cao. Đây chính là nguyên nhân làm giảm năng suất lúa nghiêm trọng.
  • Bệnh bạc lá lúa lan theo chiều gió. Một số giống bị nặng như BT7, Tạp giao
Biểu hiện của bệnh bạc lá lúa trên cây lúa

Đối với hạt lúa

Hạt cũng có thể bị nhiễm bệnh. Chúng ta có thể thấy vỏ hạt có có đặc điểm đốm bị biến màu, viền úng nước nếu hạt còn non; ở hạt già, đốm có màu xám trắng hay trắng vàng.

Biểu hiện của triệu chứng bệnh còn tùy theo tính nhiễm của giống. Bệnh có thể lan khắp phiến lá làm lá bị khô đi. Trong khi trên các giống hơi kháng hơn, vết bệnh có thể chỉ là những sọc vàng.

2. Nguyên nhân gây bệnh bạc lá lúa

Bệnh bạc lá lúa thường xảy ra khi mưa to và gió lớn, tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Xanthomonas Oryzae, cây lúa mắc bệnh không có khả năng quang hợp để tạo dinh dưỡng nuôi hạt, điều này khiến cho những diện tích lúa bị bệnh bạc lá tỷ lệ lép rất cao, có thể mất trên 50% năng suất. Gây thiệt hại không nhỏ đối với bà con. 

– Một số giống mẫn cảm với bệnh bạc lá như một số giống tạp giao và một số giống chất lượng. Trong quá trình nhổ cấy, vi khuẩn xâm nhập vào hệ thống dẫn nhựa của cây lúa khi nhổ mạ bị đứt rễ hoặc lúc lá lúa bị tổn thương.

– Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện ấm nóng và thường vụ hè thu. Bệnh hại diễn biến nặng hơn so với vụ Xuân.

– Điều kiện nhiệt độ 26-30 độ C, ẩm độ cao trên 90% thích hợp cho bệnh phát sinh, phát triển. Thời tiết mưa to, gió lớn hoặc độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho bệnh bạc lá phát sinh và gây hại trên diện rộng.

Trong điều kiện thời tiết có lợi bệnh bạc lá lúa phát triển nhanh

– Ở những ruộng màu mỡ, bón nhiều phân đặc biệt là phân đạm, bón đạm lai rai, bón không cân đối giữa (NPK), cây lúa xanh tốt, thân mềm yếu, hàm lượng đạm tự do trong cây tích lũy cao thì cây dễ nhiễm bệnh nặng.

– Những chân ruộng chua, trũng, đặc biệt là vùng đất hẩu, hàng lúa bị bóng cây che phủ thì bệnh phát triển và gây hại nặng hơn.

– Giai đoạn lúa làm đòng, trổ, kéo dài tới chín sữa là giai đoạn mẫn cảm nhất đối với bệnh và cũng gây thiệt hại năng suất cao nhất.

– Do biện pháp thâm canh gieo cấy, chăm bón không đúng kỹ thuật

3. Các biện pháp phòng trừ bệnh bạc lá lúa

Sử dụng giống lúa có khả năng chống chịu bệnh

Sử dụng những giống chống chịu tốt với bệnh bạc lá để đưa vào gieo cấy. Những nơi thường xuyên bị bệnh nặng cần tiến hành rà soát, điều chỉnh cơ cấu giống lúa. Chọn những giống kháng bệnh tốt. Hạn chế tối đa việc gieo trồng những giống nhiễm bệnh, nhất là trong vụ hè thu.

Tuân thủ lịch gieo cấy theo nông vụ

Tùy vào điều kiện của từng địa phương, bố trí lịch gieo cấy phù hợp để giai đoạn lúa đòng trổ – chín vào thời gian ít bị ảnh hưởng của mưa bão.

Gieo cấy đúng thời vụ để hạn chế bệnh bạc lá lúa

Biện pháp canh tác

– Áp dụng kỹ thuật canh tác lúa cải tiến SRI. Bà con nên cấy thưa, bón lót sâu, bón thúc sớm, tập trung bón nặng đầu nhẹ cuối và bón cân đối giữa NPK giúp cho cây lúa sinh trưởng phát triển khỏe tăng khả năng chống chịu bệnh ngay từ đầu.

– Đối với những địa phương hay bị bệnh bạc lá lúa thì ưu tiên bón tăng lân và kali.

– Với những chân ruộng hẩu hay dồn đạm cuối vụ, bà con cần giảm lượng đạm, bón tăng lân và kali cho cây cứng và lá dày, đỡ bị nhiễm bệnh bạc lá cuối vụ. Bón lót sâu, bón thúc đẻ nhánh sớm ngay sau cấy 7-10 ngày.

– Tưới nước hợp lý để cây lúa cứng cây, cứng lá, vừa tăng khả năng chống đổ vừa tăng khả năng chống chịu dịch hại nói chung và bệnh bạc lá nói riêng.

– Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, phát hiện bệnh sớm để xử lý kịp thời. Khi phát hiện cây lúa bị nhiễm bệnh, cần giữ nước ruộng 3 – 5 cm, dừng bón tất cả các loại phân hóa học, phân bón lá và thuốc kích thích sinh trưởng.

Thăm đồng thường xuyên để phát hiện bệnh sớm và phòng trừ kịp thời

Biện pháp hóa học

Khi các diện tích lúa chớm xuất hiện bệnh, bà con sử dụng các thuốc trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam có chứa các hoạt chất Bismerthiazol, Copper hydroxide, Oxolinic acid,… để phun.

Giai đoạn lúa đòng – trổ – chín, bà con cần theo dõi chặt chẽ diễn biến của thời tiết tiến hành phun trước và sau mưa giông bằng các thuốc bảo vệ thực vật có chứa hoạt chất nêu trên theo nguyên tắc 4 đúng và theo hướng dẫn sử dụng trên bao bì để ngăn chặn bệnh lây lan trên diện rộng.