Tìm hiểu các đặc trưng sinh thái của rầy nâu

Tìm hiểu các đặc trưng sinh thái của rầy nâu

Rầy nâu là một loại côn trùng ăn cây lúa và được xem như thiên dịch của mùa màng. Việc sử dụng quá mức phân đạm, phân NPK và thuốc sâu có thể làm tăng khả năng sinh sản dẫn đến bùng phát dịch. Cùng tìm hiểu chi tiết đặc trưng sinh thái của rầy nâu và có biện pháp hạn chế trên ruộng đồng trong bài viết dưới đây.

Điểm qua một số đặc điểm sinh học, hình thái của rầy nâu

Vòng đời của rầy nâu từ 25 – 30 ngày và chúng sẽ thay đổi theo mùa.

+ Thời gian trứng: 5 – 14 ngày. Trứng rầy nâu có dạng ”quả chuối tiêu”, mới đẻ trong suốt, gần nở chuyển màu vàng và có hai điểm mắt đỏ. Trứng rầy nâu đẻ thành từng ổ từ 5-12 quả nằm sát nhau theo kiểu ”úp thìa”. Đầu nhỏ quay vào trong, đầu to quay ra ngoài biểu bì ngoài của bẹ lá.

+ Thời gian rầy non: 12 – 32 ngày. Rầy non rất linh hoạt, mới nở có màu xám trắng, tuổi 2-3 trở lên có màu nâu vàng, trong điều kiện mật độ cao có màu nâu sẫm.

+ Thời gian rầy trưởng thành: 3 – 20 ngày. Con trưởng thành có màu nâu tối, con đực nhỏ hơn con cái. Có 2 dạng rầy trưởng thành: loại cánh dài và loại cánh ngắn. Rầy trưởng thành dài từ 0,4-0,5cm, có màu nâu, con cái lớn hơn con đực. Rầy trưởng thành có 2 dạng: rầy cánh dài và rầy cánh ngắn.

Rầy nâu

Đặc trưng sinh thái của rầy nâu

Rầy trưởng thành thường tập trung thành đám trên thân lúa, dưới khóm lúa để chích hút. Khi lúa bước vào giai đoạn chín, phần dưới thân lúa đã khô cứng thì rầy di chuyển lên phía trên chỗ non mềm hơn để chích hút nhựa. Đối với trưởng thành có tính hướng sáng xu tính bắt ánh sáng mạnh. Đây chính là điểm đặc trưng sinh thái nổi bật của rầy nâu.

Sự xuất hiện rầy cánh dài, rầy cánh ngắn phụ thuộc vào dinh dưỡng, điều kiện nhiệt độ, ẩm độ. Nhiệt độ xuống thấp, độ ẩm cao, thức ăn dồi dào thì rầy cánh ngắn nhiều, và ngược lại.  Rầy cánh ngắn sống lâu hơn, tỷ lệ cái/ đực cao, đẻ trứng nhiều hơn rầy cánh dài. Khi rầy cánh ngắn phát triển với mật độ cao thường xảy ra hiện tượng “cháy rầy” . Ở Miền Nam rầy có thể gây hại liên tục các vụ lúa, còn ở phía Bắc cháy rầy thường xảy ra vào tháng 5 (vụ xuân) và cuối tháng 9 đầu tháng 10 (vụ mùa).

Cách rầy nâu sinh trưởng và tồn tại trên cây lúa

Nhiệt độ: Nhiệt độ là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất tới sự phát dục, biến động quần thể và phát dịch của loài rầy nâu. Rầy nâu thích hợp với điều kiện khí hậu ấm nóng, ẩm độ cao, mưa nắng xen kẽ. Nhiệt độ thích hợp từ 25-30 độ C và độ ẩm từ 70-80%. Khi đó rầy nâu sẽ gia tăng nhanh về số lượng và mật độ rầy cao, gây thiệt hại nặng cho cây lúa. Giai đoạn lúa làm đòng đến trổ, chín thường bị gây hại nặng nhất.

Cây chủ: Lúa là cây chủ thích hợp nhất với rầy nâu. Trên các ký chủ phụ như cỏ, rầy nâu có thể sống nhưng phát triển không thuận lợi. Bởi vậy nó thường gây thiệt hại nặng nền cho mùa màng.

Mùa vụ: Việc gieo cấy hai hoặc nhiều vụ lúa liên tiếp trong một năm với thời gian không ổn định đã góp phần gây ra các trận dịch rầy nâu. Trong một năm, thời gian có cây lúa tồn tại trên đồng ruộng càng dài thì càng có điều kiện cho quần thể rầy nâu đạt đến mật độ cao. Trong điều kiện đó rầy nâu phát tán từ ruộng này sang ruộng khác và lan rộng từ ruộng cấy trước sang ruộng lúa cấy sau.

Mật độ gieo cấy: Cấy dày và tăng mật độ gieo sạ cũng giúp cho rầy nâu sinh trưởng và phát triển nhanh. Nguyên nhân là do khi tăng mật độ cấy hoặc xạ đã tạo nên điều kiện tiểu khí hậu trong ruộng lúa thích hợp với rầy nâu.

Phân bón: Bón nhiều phân đạm sẽ làm mật độ rầy nâu tăng lên, bởi lẽ khi bón nhiều phân đạm đã làm cây lúa chống chịu với rầy nâu kém hơn và làm tăng sức sống, cũng như khả năng đẻ trứng của rầy nâu.

Ruộng lúa bị cháy rầy nâu

Biện pháp hạn chế rầy nâu gây hại trên đồng ruộng

Rầy nâu khiến lúa ở thời kỳ con gái chậm phát triển, giai đoạn lúa trổ, bị cháy và lép hạt. Rầy nâu còn là môi giới truyền bệnh virus nguy hiểm trên lúa như bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá lúa. Vậy để phòng trừ rầy nâu trên đồng ruộng bà con cần lưu ý:

  • Thứ 1: Vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, dọn sạch tàn dư, cỏ dại xung quanh bờ, mương dẫn nước.
  • Thứ 2: Dùng giống kháng rầy, canh tác theo mô hình lúa – cá.
  • Thứ 3: Không gieo với mật độ quá dày,  gieo sạ đồng loạt và tập trung, không trồng lúa liên tục trong nhiều năm.
  • Thứ 4: Sau khi gieo sạ nên dẫn nước vào ruộng lúa và duy trì mực nước phù hợp để hạn chế rầy nâu chích hút thân cây lúa.
  • Thứ 5: Bón phân đầy đủ cân đối dinh dưỡng khoáng đa, trung, vi lượng.

Rầy nâu có phản ứng kháng, nhiễm với các giống lúa rất rõ, nó có khả năng hình thành các nòi sinh học mới khi có sức ép chọn lọc của môi trường đủ lớn. Rầy có khả năng di cư đám đông rất xa và kháng thuốc cao. Bởi vậy bà con nên hết sức lưu ý khi thăm đồng và chăm sóc cây lúa.